Giáo trình nuôi thỏ P3B: DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN CỦA THỎ

Giáo trình nuôi thỏ P3B: DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN CỦA THỎ

Giáo trình nuôi thỏ

Thỏ có thể ăn nhiều loại cỏ trong điều kiện ĐBSCL các loại rau cỏ có thể cho thỏ  ăn như rau lang, rau muống, rau trai (Commelina palidusa), lục bình (Eichhornia crassipes), bìm bìm (Operculina turpethum),  địa cúc (Wedelia spp), v.v.., và các loại cỏ như c ỏ lông tây (Brachiaria mutica), cỏ lá tre (Paspalum conpressum), cỏ m ồm (Hymenache acutigluma), cỏ chỉ (Cynodon dactylon), cỏ sả (Panicum maximum), cỏ ống (Panicum repens), cỏ voi (Penisetum purpureum), v.v.. Chú ý là nên cắt cỏ trước khi ra hoa vì cỏ đã ra hoa thì chất lượng giảm đi do dẩn xuất không đạm giảm trong lúc hàm lượng xơ và các chất khó tiêu hoá tăng lên như lignin, cutin, silic, v.v… Cần thiết hết sức chú ý đối với:
  – Cỏ hư thối
  – Cỏ ướt nên phải để dàn mỏng ra cho khô, không nên chất thành đống. Điều này có thể tạo điều kiện cho một số vi khuẩn lên men
 Số lượng cỏ cho thỏ ăn nhiều hay ít còn phụ thuộc vào khẩu phần của thỏ có cho ăn thêm thức ăn tinh hay không, thông thường thỏ cái ăn khoảng 1,0 – 1,5 kg/ngày.

II. Các loại họ đậu và phụ phẩm trồng trọt.


  Một số các loại cỏ họ đậu như stylo, clover, bình linh (Leuceana lecocephala), so đủa (Sesbania grandiflora), điên điển (Sesbania sesban), cỏ đậu lá nhỏ (Spophocarpus scandén), cỏ đậu lá lớn (Macana pruriens), đậu Bông biếc (Centrosema pubescens) v.v… Các loại cỏ khô, lá đậu khô và các phụ phẩm ở chợ như lá cải, xu hào, rau má, củ cải, cà rốt, vỏ trái cây cũng có thể cho thỏ ăn, ngay cả các loại rau có mùi thơm như sả, tía tô, rau húng thỏ cũng ăn được.

Qua việc tìm hiểu về thành phần dưỡng chất của từng loại thức ăn ta thấy: hầu hết các loại thức ăn trên đều có thành phần dưỡng chất phù hợp dùng nuôi thỏ. Về CP của các loại thức ăn xanh thô ngoài một số loại có CP cao như rau muống, lá dâu tằm, rau dền, Trichanteria gigantica, đậu lá nhỏ, đậu lá lớn, rau lang, lá rau muống sử dụng rất tốt khi cho thỏ ăn mà lượng xơ cũng phù hợp với thỏ; cỏ mồm, cỏ mần trầu, cỏ voi, cỏ sả, cỏ Ruzi, cỏ Paspalum atratum có hàm lượng NDF, CF cao và CP ở mức thấp nên chú ý về tỷ lệ tiêu hóa với lượng dưỡng chất mà thỏ sử dụng được trong khẩu phần. Vì vậy nên hạn chế các loại cỏ này trong khẩu phần ở mức hợp lý để đảm bảo sự tận dụng thức ăn của thỏ.
 Một vài loại thức ăn có DM thấp (lục bình, cải bách thảo, lá bắp cải, lá bông cải, rau lang, rau muống, rau trai) nên chú ý khi sử dụng nên kết hợp với loại thức ăn có DM cao hơn để cân đối sự tiếp thu dưỡng chất. Nhóm thức ăn bổ sung đạm và năng lượng: nếu sử dụng dược nhóm thức ăn này khi nuôi thỏ thì rất tốt và tiện lợi. Lúa, tấm, cám, khoai củ bổ sung năng lượng rất tốt cho thỏ khi khẩu phần thiếu năng lượng. Cám, thức ăn hỗn hợp, bã bia, bã đậu nành là những loại thức ăn có CP cao bổ sung vào khẩu phần sẽ tăng lượng CP lên khi cần thiết là tốt và tiện lợi (Nguyen Van Thu & Danh Mo, 2008)…


Từ kết quả của bảng trên ta thấy

  Nhóm thức ăn rau cỏ tự nhiên:  các loại thức ăn đều có tỷ lệ tiêu hoá ở in vitro lớn hơn  50%. Đặc biệt rau dền có TLTH rất cao: 85,2%. Địa cúc 73,5%, bìm bìm 72,8%, rau trai 77,3%, cây chó đẻ 76,1%, là TLTH cao. Các thức ăn này thỏ tiêu hoá rất tốt. Lục bình 58,4%, cỏ lông tây 53,5%, mần trầu 57,5% là TLTH khá tốt. Cúc và bìm bìm tiêu hóa đến 48 giờ thì hết do lúc này dưỡng chất cần thiết đã được sử dụng hầu như hoàn toàn. Các thức ăn còn lại thì tiêu hóa đến 96 giờ lúc đầu tỷ lệ tiêu hóa nhanh càng về sau TLTH chậm lại do dưỡng chất cần thiết đã được sử dụng càng lúc càng giảm dần. Các cây cỏ tự nhiên đều có thể làm thức ăn cho thỏ, thỏ tiêu hóa các loại thức ăn này khá tốt (lớn hơn 50%OM) đặc biệt là rau dền, địa cúc, bìm bìm, rau trai, cây chó đẻ.
  Nhóm thức ăn rau cỏ trồng: lá dâm bụt và dâm bụt tỷ lệ tiêu hóa ở in vitro (TLTH) rất cao lần lượt là 91,7%, 88,0%. Lá dâm bụt và dâm bụt tiêu hóa đến 24 giờ thì hầu như không còn tiêu hóa nữa do đến lúc 24 giờ thì dưỡng chất cần thiết đã được sử dụng hết. Cỏ sả, cỏ ruzi, cỏ Paspalum atratum có tỷ lệ tiêu hoá thấp và tương đương nhau (nhỏ hơn 50%): cỏ sả thấp nhất 39,0%, cỏ Paspalum atratum 41,08%, cỏ Ruzi 43,8%. Do xơ khá cao nên thỏ khó tiêu hoá. TLTH đến 96 giờ lúc đầu tỷ lệ tiêu hóa nhanh càng về sau TLTH chậm lại do dưỡng chất cần thiết đã được sử dụng cạn kiệt dần. Nên bổ sung dâm bụt và lá dâm bụt vào khẩu phần ăn của thỏ là tốt vì tỷ lệ tieu hóa cao.
  Nhóm thức ăn họ đậu: có TLTH cao với đậu lá lớn 72,2%, đậu lá nhỏ 71,2%. Các thức ăn này thỏ tiêu hoá khá tốt. TLTH đến 96 giờ lúc đầu tỷ lệ tiêu hóa nhanh càng về sau TLTH chậm lại do dưỡng chất cần thiết đã được sử dụng giảm dần. Qua TLTH trên ta thấy đậu lá lớn và đậu lá nhỏ tiêu hóa tốt ở thỏ và lượng CP của 2 thức ăn này khá cao vì vậy sử dụng bổ sung vào trong khẩu phần ăn của thỏ là rất tốt. Nhóm phụ phẩm trồng trọt: tỷ lệ tiêu hoá rất cao (lớn hơn 90%) với rau lang 90,6%, lá rau muống 91,4%, lá bắp cải 91,0%, lá bông cải tiêu hoá cao 77,6%. TLTH đến 96 giờ lúc đầu tỷ lệ tiêu hóa nhanh càng về sau TLTH chậm lại do dưỡng chất cần thiết đã được sử dụng giảm dần. Từ 48 giờ – 96 giờ TLTH hầu như không đáng kể. Nhóm thức ăn này thỏ tiêu hoá rất tốt, nên tận dụng các phế phẩm trồng trọt này làm thức ăn cho thỏ là rất tốt, Nhưng chú ý vấn đề chất lượng của phế phẩm và lượng thuốc bảo vệ thực vật.
 Ở TLTH vật chất hữu cơ trong in vitro thì hầu hết các thức ăn này đều tốt. Các thức ăn rau trai, dâm bụt, lá dâm bụt, rau dền, phế phẩm trồng trọt TLTH là rất cao nên dùng các loại thức ăn này dể nuôi thỏ là rất tốt. Ngoài ra các loại thức ăn khác (trừ cỏ sả, cỏ Ruzi, cỏ Paspalum atratum) đều có tỷ lệ tiêu hóa lớn hơn 50% nên dùng nuôi thỏ được. Đậu lá nhỏ, đậu lá lớn có tỷ lệ tiêu hóa cao (72%), có hàm lượng CP, DM khá, NDF và CF ở mức trung bình nên dùng trong khẩu chăn nuôi thỏ là tốt.

 Qua biểu đồ trên ta thấy lượng khí sinh ra (ml/gOM) có mối quan hệ chặt chẽ với tỷ lệ tiêu hóa in vitro (%OMD) ở R 2 = 0.80. Qua đó ta có thể từ lượng khí sinh ra (%OMD) mà biết được tỷ lệ tiêu hóa (%OMD) và ngược lại với R2 = 0.80. Việc dùng lượng khí sinh ra để dánh giá TLTH ở in vitro còn khá mới mẽ và còn đang dược nghiên cứu nhiều. Tuy nhiên giữa chúng có mối quan hệ với nhau. TLTH tăng theo thời gian lượng khí sinh ra cũng tăng theo thời gian. TLTH và lượng khí sinh ra tại một thời điểm có quan hệ mật thiết với nhau. TLTH và lượng khí sinh ra tại các thời điểm của một loại thức ăn thì khác nhau và khác nhau ở các loại thức ăn khác nhau.

 Từ kết quả bảng 9 ta thấy hàm Orskov là hàm dùng để xác định mối quan hệ giữa lượng khí sinh ra với thời gian ủ phổ biến trên bò. Tuy nhiên khi sử dụng hàm này để đánh giá mối quan hệ giữa lượng khí sinh ra với thời gian ủ trên thỏ cũng chính xác ở địa cúc với R2 = 0,990, lá bông cải với R2 = 0,997, đậu lá lớn với R2 =0,960, rau lang  với R2 = 0,980, cỏ lông tây, đậu lá nhỏ, lá rau muống với R2 lần lượt là 0,977, 0,989, 0,980. Từ đó chúng ta có thể sử dụng hàm này để ước lượng thể tích khí sinh ra theo thời gian. Lượng khí sinh ra càng nhiều chứng tỏ dưỡng chất được sử dụng càng cao.
  Từ kết quả phân tích thành phần dưỡng chất, theo dõi TLTH vật chất hữu cơ và sinh khí trong in vitro nhận thấy các thức ăn trên có thể dùng nuôi thỏ triển vọng tốt: Nhóm rau cỏ tự nhiên: cỏ lông tây, rau muống, địa cúc, bìm bìm, Trichanteria gigantica, rau trai.  Nhóm cỏ họ đậu: đậu lá nhỏ và đậu lá lớn. Nhóm phế phẩm trồng trọt: rau lang, lá bông cải, lá bắp cải, cải bắc thảo, lá rau muống. Nhóm thức ăn bổ sung đạm và năng lượng: tấm, cám, lúa hạt bổ sung năng lượng trong khẩu phần rất tốt và tiện lợi; cám, thức ăn hỗn hợp, bã bia, bã đậu nành dùng bổ sung đạm rất phù hợp cho thỏ.

III. Thức ăn tinh bột.


  Gồm có lúa, ngô, khoai, sắn,.. dùng để bổ sung thêm cho thỏ. Bắp và lúa thường được ngâm nước cho mền trước khi cho ăn. Lúa mọc mầm cho ăn rất tốt, thường lúa ngâm từ chiều ngày hôm trước đến chiều hôm sau, rồi trải ra mặt nền có bóng mát và sáng hôm kế thì lấy lúa nẩy mầm cho thỏ ăn, chỗ nào chưa dùng tới thì cứ ủ bao và tưới nước mỗi ngày một lần. Tuy nhiên không nên để mầm lên quá 1cm. Mầm lúa có nhiều vitamin E, B1, B6, B2, PP và C. 1 kg lúa ngâm 24 giờ sẽ cho 1,7kg và ủ 48 giờ sẽ nặng là 2,3 kg.

Thức ăn cung cấp tinh bột cho thỏ

IV. Thức ăn bổ sung đạm.


 Bột cá, bột thịt và các loại bánh dầu (đậu nành, dừa, bông vải, phọng) cũng được dùng để trộn vào hổn hợp thức ăn cho thỏ tùy theo yêu cầu chất lượng của hổn hợp thức ăn. Việc bổ sung thức ăn hỗn hợp tuỳ thuộc vào giá cả thức ăn và giá bán thịt hay thỏ giống vì giá thức ăn hỗn hợp cao. Kinh nghiệm cho thấy nếu bổ sung thức ăn hỗn hợp 20%CP cho thỏ thịt thì ở mức 20-30g/ngày con tuỳ giai đoạn, trong lúc ở thỏ mang thai là khoảng 40g/ngày và thỏ nuôi con là 60g/ngày trong điều kiện khẩu phần có bổ sung thêm lá rau muống và bã đậu nành (Nguyen Thi Kim Dong & Nguyen Van Thu, 2008). Tuy nhiên nếu khẩu phần chỉ cho ăn cỏ lông tây thì thức ăn hỗn hợp có thể bổ sung tăng lên đến 100g/ngày ở thỏ nuôi con (Nguyễn Thị Xuân Linh, 2008). Cần thiết cho ăn thêm cỏ khô vào ban đêm cho thỏ gậm nhấm cũng như cung cấp thêm nước uống cho thỏ. Các loại bã bia, bã đậu nành, bã đậu xanh có thể bổ sung đạm tốt vì tận dụng được nguốn dưỡng chất với giá rẻ.

 V. Cách chế biến thức ăn cho thỏ.


   Đối với thức ăn xanh thường được thu hoạch lúc còn non hay vừa phải nên không cần phải chế biến gì, tuy nhiên nếu quá dài hay thô thì cần phải cắt ngắn 20-30 cm. Các loại khoai, quả thì sắt nhỏ dày khoảng 5-8mm. Bắp hay lúa hạt thì xay bể hay xay nhuyễn, tuy nhiên lúa hay hạt đậu cũng có thể cho ăn nguyên hạt. Nếu thức ăn ở dạng bột thì cần phải vẩy ít nước để tránh bụi thức ăn bay vào mủi thỏ và cũng để tránh hao tốn thức ăn. Các dạng thức ăn hạt cũng có thể ngâm nước và ủ cho nẩy mầm cho thỏ ăn như là bắp, lúa và đậu. Cỏ xanh lúc có nhiều có thể thu hoạch và làm cỏ khô dự trữ, cỏ phơi khô được bó lại thành từng bánh chặt cả 2 đầu rồi gác lên sàn cao cách mặt đất khoảng 1m. Việc phối hợp thức ăn sẽ làm tăng khẩu vị và tăng khả năng tiêu hoá chúng.  Không nên cho thỏ ăn đơn điệu một loại cỏ hay một loại thức ăn tinh dài ngày vì như vậy sẽ làm giảm tính thèm ăn của thỏ, dẫn đến lượng thức ăn tiêu thụ giảm làm ảnh hưởng đến năng suất tăng trưởng và sinh sản của chúng.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.